Thu gọn danh mục
Danh mục bài viết

Viêm tai ngoài có gây ra tình trạng đau đầu không

Ngày đăng : 07-04-2021 - Lượt xem : 724

Viêm ống tai ngoài có thể biểu hiện như một nhọt ống tai hoặc như là một nhiễm trùng lan tỏa toàn bộ ống tai (viêm ống tai ngoài lan rộng cấp tính). Loại thứ hai thường được gọi là tai của người bơi; sự kết hợp của nước trong ống tai và việc sử dụng bông ngoáy tai là yếu tố nguy cơ chính. Viêm ống tai ngoài ác tính là một Pseudomonas gây viêm xương và xương, thường xảy ra trên bệnh nhân già, bệnh tiểu đường, và các bệnh nhân suy giảm miễn dịch.

Nguyên nhân thường gặp

Viêm ống tai ngoài cấp tính thường do vi khuẩn, ví dụ như Pseudomonas aeruginosaProteus vulgarisStaphylococcus aureus, hoặc là Escherichia coli. Viêm ống tai ngoài do nấm (otomycosis), thường gây ra bởi Aspergillus niger hoặc là Candida albicans, ít phổ biến hơn. nhọt ống tai ngoài thường là do S. aureus (và kháng methicillin S. aureus trong những năm gần đây).

Yếu tố nguy cơ bao gồm

  • Chấn thương ống tai gây ra bởi ngoáy bông ngoáy tai nhiều hoặc các chấn thương khác

  • Dị ứng

  • Bệnh vẩy nến

  • Chàm

  • Viêm da tiết bã

  • Độ axit giảm ở ống tai (có thể là do nước vào ống tai thường xuyên)

  • Chất gây kích ứng (ví dụ, thuốc xịt tóc, thuốc nhuộm tóc)

Cố gắng làm sạch ống tai bằng bông ngoáy tai có thể gây ra các vi xước của da ống tai (tạo thành đường vào cho vi khuẩn) và có thể đẩy ráy tai và các chất bẩn sâu vào ống tai. Những chất tích tụ này có xu hướng làm đọng nước, dẫn đến tình trạng ống tai bị ẩm ướt da tạo nên thuận lợi cho nhiễm khuẩn.

Dấu hiệu nhận biết

Bệnh nhân bị đau và chảy dịch tai. Đôi khi, chảy nước tai hôi và nghe kém xảy ra nếu ống tai trở nên sưng lên hoặc chứa đầy những mảnh biểu bì . Đau khi kéo ống tai hoặc ấn bình tai là dấu hiệu điển hình. Khám nội soi tai đôi khi gây đau và khó thực hiện. hình ảnh ống tai đỏ, sưng lên và rải rác bằng các mảnh biểu bì ẩm ướt, có mủ và biểu mô bị tổn thương

Nấm ống tai biểu hiện ngứa nhiều hơn đau, và bệnh nhân cũng phàn nàn về cảm giác đầy tai. Nấm ống tai do A. niger thường có biểu hiện với các tổ chức nấm màu xám đen hoặc chấm vàng (nấm bào tử) được bao quanh bởi một tổ chức nấm hình sợi bông (sợi nấm ). Nhiễm trùng do C. albicans không hiển thị bất kỳ tổ chức nấm nào nhìn thấy nhưng thường chứa một chất dịch trắng, có thể đi kèm với các bào tử có bề ngoài mềm mại.

Nhọt ống tai gây ra những cơn đau dữ dội và có thể chảy ít máu hoặc chảy mủ. Chúng xuất hiện như một điểm sưng nề, tấy đỏ (nhọt).

Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán dựa trên soi tai khi mủ nhiều, viêm ống tai ngoài có thể khó phân biệt với bệnh cấp tính, có mủ của tai giữa viêm tai giữa với lỗ thủng màng nhĩ; đau gây ra bởi kéo vành tai là dấu hiệu quan trọng chỉ ra một viêm ống tai ngoài. Viêm ống tai ngoài do nấm được chẩn đoán bằng lâm sàng hoặc nuôi cấy.

Chẩn đoán nội khoa

Để chẩn đoán nội khoa cần phải qua nhiều bước kiểm tra trong đó chi tiết là nội soi hoặc chụp CT nếu bệnh nhân gặp các triệu chứng nguy hiểm như đau đầu, chóng mặt trong thời gian dài. 

Lưu ý để có kết quả xét nghiệm tốt nên đảm bảo những tiêu chuẩn như tránh ăn quá nhiều, uống nước có cồn, ngủ đủ giấc.

Điều trị

  • Làm thuốc tai tại chỗ

  • Nhỏ tai bằng Axit axetic và corticosteroid

  • Đôi khi kháng sinh tại chỗ cần thiết

Trong viêm tai giữa cấp tính nhẹ và trung bình, thuốc kháng sinh và corticosteroid tại chỗ có hiệu quả. Đầu tiên, các mảnh biểu bì và tổ chức bệnh phải được lấy nhẹ nhàng và triệt để từ ống tai bằng ống hút hoặc que tăm bông dưới ánh sáng đầy đủ. Chống chỉ định bơm nước vào tai.

Bệnh viêm ống tai ngoài nhẹ có thể được điều tbằng cách thay đổi độ pH của ống tai bằng axit axetic 2% (hoặc dung dịch dấm) và bằng cách làm giảm viêm với hydrocortisone tại chỗ; liều là 5 giọt 3 lần ngày trong vòng 7 ngày.

Viêm ống tai ngoài mức độ trung bình phải cần thêm dung dịch kháng khuẩn hoặc huyền phù, chẳng hạn như ciprofloxacin, ofloxacin, hoặc neomycin / polymyxin (thành phần neomycin có tính nhạy cảm cao và dị ứng là phổ biến). Khi viêm ống tai tương đối nặng, nên đặt một meches tai vào ống tai và nhỏ với dung dịch Burow (5% nhôm acetate) hoặc thuốc kháng sinh 4 lần / ngày. Meches tai giúp những giọt thuốc sâu hơn vào trong ống tai ngoài khi ống tai bị sưng lên rất nhiều. Meches tai thay mỗi 24 đến 72 giờ (hoặc có thể rơi tự phát), sau đó sưng tấy có thể giảm đi đủ để cho phép nhỏ tai giọt trực tiếp vào ống tai.

Viêm ống tai ngoài nặng hoặc sự xuất hiện của viêm tấy mở rộng ra ngoài ống tai có thể cần kháng sinh toàn thân, như cephalexin 500 mg uống 4 lần ngày trong 10 ngày hoặc ciprofloxacin 500 mg uống 2 lần ngày trong 10 ngày. Một thuốc giảm đau, chẳng hạn như NSAID hoặc thậm chí là thuốc uống opioid, có thể là cần thiết trong 24 đến 48 giờ đầu tiên.

Viêm tai ngoài do nấm đòi hỏi phải làm sạch toàn bộ ống tai và dùng thuốc chống nấm tại chỗ(ví dụ như tím gentian, cresylate acetate, nystatin, clotrimazole, hoặc thậm chí là cả axit acetic và rượu isopropyl). Tuy nhiên, các giải pháp này không nên được sử dụng nếu màng nhĩ bị thủng bởi vì chúng có thể gây ra đau nặng hoặc tổn thương tai trong. Làm thuốc tai hàng ngày và điều trị là cần thiết để có thể loại bỏ hoàn toàn nhiễm trùng

Tránh nước vào tai (ví dụ, đội mũ tắm, tránh bơi) được khuyên với bệnh nhân viêm tai ngoài và viêm tai ngoài do nấm.

Nhọt ống tai, nếu rõ ràng , nên được trích rạch và dẫn lưu mủ Tuy nhiên, vết trích rạch có ít giá trị nếu bệnh nhân được nhìn thấy ở giai đoạn sớm. Thuốc kháng sinh tại chỗ không có hiệu quả; kháng sinh đường uống chống tụ cầu cần được dùng. Thuốc giảm đau, như oxycodone với acetaminophen, có thể là cần thiết để giảm đau. Nhiệt khô cũng có thể làm giảm bớt đau đớn và nhanh hồi phục hơn.

Phòng ngừa bệnh viêm tai ngoài như thế nào

Với các trường hợp bị nhiễm trùng tai thường xuyên, các biện pháp dự phòng nêu trên có thể là chưa đủ. Bác sĩ có thể chỉ định dự phòng bằng thuốc kháng sinh.

Hiện chưa có sự thống nhất về thời điểm bắt đầu dùng thuốc dự phòng. Một số chuyên gia cho rằng nên bắt đầu dùng thuốc dự phòng nếu bệnh nhân bị hơn 3 lần nhiễm trùng tai trong vòng 6 tháng hay hơn 4 đợt trong một năm. Một số chuyên gia tỏ ra dè dặt hơn và chỉ định dùng thuốc muộn hơn. Một số yếu tố như giảm thính lực gây ra khó khăn trong việc giao tiếp, tiếp thu thông tin cần phải có biện pháp hữu hiệu hơn.

 

*Lưu ý: Hiệu quả của việc điều trị còn tùy thuộc vào cơ địa của mỗi người